Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng mọi thủ đoạn thâm độc. Trong đó, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, hòng tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc và tín đồ tôn giáo là một thủ đoạn mà chúng thường dùng.
ĐQ.Psy11
Ở Việt Nam, quyền tự do tôn giáo được khẳng định bằng luật pháp. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và tôn giáo. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán quan điểm “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc”; từ đó, kiên trì chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của mọi người dân và đã đạt được những kết quả tốt đẹp. Các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam phát triển tích cực, ổn định; đồng bào có đạo ngày càng tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Quán triệt, kế thừa, phát triển quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Người, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện chủ chương, cơ chế, chính sách, pháp luật về tôn giáo, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Ngay sau khi giành được chính quyền năm 1945, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, trong bản Hiến pháp đầu tiên của một nước Cộng hòa non trẻ đã khẳng định: “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (tại Điều 1, Chương 1); hay: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng” (tại Điều 10, Chương 2).
Quyền tự do tín ngưỡng của công dân không chỉ thể hiện trong văn bản pháp quy có giá trị cao nhất mà Đảng ta đã dành những sự ưu ái, tin tưởng đặc biệt đối với đồng bào, nhân sỹ, trí thức là người các tôn giáo thể hiện trong thành phần nội các Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc bấy giờ (có nhiều vị Bộ trưởng, Cố vấn của Chính phủ là người theo các tôn giáo).
Đến bản Hiến pháp năm 1959, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được tái khẳng định và cụ thể hóa, tại Điều 26 quy định: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Trong bản Hiến pháp này, quyền tự do tín ngưỡng đã được mở rộng theo hướng công dân được “theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Điều này cho thấy tự do tín ngưỡng không chỉ là quyền theo tôn giáo mà còn có cả quyền không theo tôn giáo.
Từ đó đến nay, trong các kỳ Đại hội VIII, IX, X, XI, XII những quan điểm về tôn giáo dần được bổ sung và từng bước hoàn thiện. Những quan điểm được các Đại hội Đảng nêu ra và được thể hiện trong các văn bản pháp luật cho thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng quyền tự do tôn giáo, chủ trương lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu vì "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng để gắn bó giữa đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Các tín đồ tôn giáo là một phần không thể thiếu trong cộng đồng người Việt Nam, được hưởng mọi quyền lợi của một công dân Việt Nam theo quy định của pháp luật. Trong những năm qua nhiều tôn giáo đã ra đời và được pháp luật Nhà nước Việt Nam công nhận. Tính đến nay, cả nước có 12 tôn giáo với trên 22 triệu tín đồ, 80 nghìn chức sắc, nhà tu hành, 32 tổ chức và trên 25 nghìn nơi thờ tự. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra sôi nổi và đang có chiều hướng gia tăng. Lễ Nôen, lễ Phật đản cũng như những lễ trọng khác của các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian trở thành ngày hội chung của toàn dân, lôi cuốn hàng vạn người tham gia. Nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng ấy được chính quyền các địa phương tạo điều kiện đáp ứng. Việc xây dựng, sửa chữa, tu bổ nơi thờ tự diễn ra khắp nơi. Nhiều chính quyền địa phương còn cấp đất cho giáo hội làm nơi thờ tự, sinh hoạt tôn giáo.
Tuy nhiên, một số tổ chức và cá nhân vẫn luôn luôn có âm mưu đen tối chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam. Chúng ra sức kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo trong nước chống đối, gửi “thỉnh nguyện thư” lên các tổ chức “dân chủ”, “nhân quyền” quốc tế đề nghị can thiệp, đòi Nhà nước Việt Nam trả tự do cho số đối tượng vi phạm pháp luật bị chính quyền xử lý mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”. Cá biệt,ngày 08 tháng 12 năm 2016 Trần Gia Phụng (trú tại Canada) tuyên truyền vu khống các cơ quan chức năng Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo”, xuyên tạc Đảng, Nhà nước ta “dùng bạo lực để đàn áp giáo dân” để tuyên truyền, cổ súy tư tưởng đa nguyên, đa đảng, thực hiện cái gọi là “xã hội dân sự”, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gây phức tạp an ninh, trật tự, an toàn xã hội, v.v. Đó là hành động vi phạm nhân quyền trắng trợn đối với một quốc gia có chủ quyền.
Ngài có biết rằng, Ở Việt Nam, tín đồ và chức sắc các tôn giáo đã và đang yên tâm hành đạo và tin tưởng ở chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo của Ðảng, Nhà nước ta. Họ gắn bó với quốc gia, dân tộc theo đường hướng: “Ðạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, thực hiện “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “nước vinh, đạo sáng”, với tấm lòng “kính Chúa yêu nước”, vừa hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với Tổ quốc, vừa làm tròn bổn phận của một tín đồ đối với tôn giáo. Hàng chục triệu tín đồ các tôn giáo khác nhau đã, đang và tiếp tục cùng nhau và cùng toàn dân tìm thấy sự tương đồng, mẫu số chung ở mục tiêu phấn đấu cho: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những chủ trương, chính sách và thành công trong việc thực hiện chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong những năm qua là lớn lao, không thể phủ nhận. Thực tiễn đã trả lời cho câu hỏi, nếu Việt Nam hạn chế tôn giáo, vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo thì các tổ chức tôn giáo có thể xác lập được vị trí, phát triển ổn định và các tôn giáo ở Việt Nam có thể hội nhập toàn cầu như hiện nay hay không?
Có thể nói, chưa bao giờ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lại sôi nổi, mạnh mẽ và được quan tâm như hiện nay. Và, chưa thời kỳ nào mà Đảng, Nhà nước ta lại xây dựng được hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo đầy đủ và hoàn thiện như ngày nay. Điều đó chứng tỏ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được bảo đảm toàn diện trên thực tế. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng; chưa bao giờ có chủ trương cản trở hoạt động tôn giáo bình thường của nhân dân, lại càng không hề có sự kỳ thị, chèn ép, phân biệt đối xử, cấm đoán quyền tự do tôn giáo của công dân. Tất cả các tín đồ tôn giáo, chức sắc, chức việc, các giáo hội, giáo phận… ở Việt Nam đều thừa nhận quyền tự do này luôn được Nhà nước tôn trọng. Đây là một thực tế không thể xuyên tạc!
Ngài cũng cần biết, bên cạnh việc tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của công dân, chủ trương của Đảng, luật pháp của Nhà nước Việt Nam cũng đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân; đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc, v.v.”. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Nhà nước Việt Nam không cho phép bất kỳ tôn giáo nào được phép đứng ngoài luật pháp, đứng ngoài dân tộc, đứng trên lợi ích quốc gia. Một yêu cầu khách quan đặt ra trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam là dù nội sinh hay ngoại sinh, các tôn giáo muốn phát triển đều phải hòa đồng với dòng chảy văn hóa của dân tộc và phải chịu sự quản lý của Nhà nước. Khi xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, một trong những yêu cầu cơ bản mà Nhà nước Việt Nam đặt ra là trong sáng, vô tư, không có sự phân biệt hay đối xử thiên vị giữa các tôn giáo. Thực tế ở Việt Nam không có hiện tượng chống tín ngưỡng, tôn giáo, mà chỉ chống những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, gây rối trật tự công cộng, xâm phạm an ninh quốc gia. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là quyền vô giới hạn, vì vượt qua phạm vi nào đó sẽ lại vi phạm vào quyền chính đáng của những người khác. Tự do theo nghĩa chân chính là tự do của người này, cộng đồng này không vi phạm đến tự do của người khác và cộng đồng khác. Chẳng có quốc gia nào mà cá nhân và tổ chức tôn giáo được hoạt động ngoài vòng pháp luật của quốc gia đó.
Do đó, một lần nữa các ngài cần hiểu, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thực sự được coi trọng, bảo đảm ngày một tốt hơn, toàn diện hơn. Các tôn giáo ở Việt Nam dù nội sinh hay ngoại nhập, muốn phát triển được đều phải hòa đồng với văn hóa dân tộc và phải chịu sự quản lý của Nhà nước. Đây là yêu cầu khách quan, bởi lẽ không một tôn giáo nào được phép đứng ngoài quốc gia, dân tộc và đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Lợi ích quốc gia là cao nhất, trong đó có lợi ích của các tôn giáo.


Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4

Nghị quyết Trung ương 4 - Khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ vừa mới ban hành đã gặp phải sự chống phá, công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Chúng ra sức xuyên tạc, triệt để lợi dụng sự kiện này để tuyên truyền làm nhiễu loạn thông tin, hướng lái dư luận, gây hoang mang trong nhân dân và cán bộ, đảng viên. Chúng cho rằng, việc Đảng Cộng sản Việt Nam phải đưa ra vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng cho thấy nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng không phải từ xa, từ bên ngoài mà từ trong nội bộ, Đảng chỉ sửa lỗi hệ thống “kiểu giật gấu vá vai”, là sự “tụt hậu” về ý thức hệ và sự sụp đổ là tất yếu; rằng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đề ra từ rất lâu, nhưng đến nay chưa có kết quả, việc triển khai các Nghị Quyết Trung ương từ trước đến nay chỉ là hình thức, mị dân. Lần này cũng vậy, chúng cho rằng Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa XII chưa đi vào nguyên nhân gốc, Đảng Cộng sản Việt Nam “tự tan vỡ” và không còn vai trò lãnh đạo đất nước.
Chúng ta biết rằng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII là góp phần tăng cường xây dựng, chỉnh đốn đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà ngay tên Nghị quyết cũng thể hiện rất rõ điều này. Một điều thực tế dễ nhận thấy là trong Nghị quyết lần này Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đồng thời, đã đưa lại cho chúng ta một sự nhận diện khá đầy đủ, sắc nét về thực trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vấn đề trên thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta là: nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Nhận diện đúng là để qua đó mỗi cá nhân và tổ chức trong Đảng có thể tự soi mình. Vấn đề này thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam không che giấu những khuyết điểm của mình.
Tuy vậy, các thế lực thù địch lại cho rằng, đó là những cuộc “đấu đá” nội bộ, giữa “nhóm lợi ích mới” với “nhóm lợi ích cũ”. Đáng chú ý gần đây có kẻ cho rằng: “Tất cả những chuyện về suy thoái, chuyện về “diễn biến”, rồi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hay điều gì đó, thì chỉ nhằm “triệt phe phái”, là “tranh nhau ghế”; rằng Hội nghị Trung ương 4 là biểu hiện của sự “bế tắc” giải pháp cho các vấn đề xã hội. Các lực lượng phản động cả trong nước và nước ngoài đã lợi dụng triệt để sự thẳng thắn và nghiêm túc thừa nhận khuyết điểm của Đảng Cộng sản khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng công khai trên các phương tiện truyền thông rằng “tình trạng suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hoá vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường” để tìm cách xuyên tạc, chống phá.
Có thể khẳng định rằng, tất cả những luận điệu của họ đều xuyên tạc sự thật nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, mối quan hệ giữa Đảng ta với nhân dân. Và mục tiêu cuối cùng của chúng là chuyển hóa chế độ ta sang mô hình “dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên, đa đảng” ngoại nhập, tuyên truyền xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch, của các “nhà hoạt động xã hội”, “người yêu nước” đều nhằm phá hoại niềm tin của nhân dân ta đối với sự lãnh đạo của Đảng, hòng chuyển hóa chế độ ta sang mô hình “dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên, đa đảng” ngoại nhập.
Cho dù các thế lực thù địch, các “nhà hoạt động xã hội”, hoặc kẻ nhân danh “người yêu nước” có dùng âm mưu thủ đoạn thâm độc đến đâu cũng không thể che đậy được dã tâm của họ. Như đông đảo cán bộ, nhân dân ta xác định, mặc dù xã hội ta vẫn còn những vấn đề phải giải quyết, thậm chí có cả những vấn đề bức xúc, nhưng không có lực lượng chính trị nào có đủ lương tâm, trí tuệ và sức mạnh hơn Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện chế độ xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết lần này có ý nghĩa rất quan trọng, vì vậy vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện ra sao để đem lại hiệu quả thiết thực trong thực tế cuộc sống, nhằm đạt được mục tiêu cao nhất đúng như nghị quyết đã xác định: Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Để đạt được mục tiêu nêu trên phụ thuộc rất lớn vào thái độ, trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên, mà trước hết là người đứng đầu cấp ủy. Bởi vậy, để triển khai hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phải nắm vững những nội dung trọng tâm, cốt yếu được xác định trong nghị quyết, mà trước hết là 4 nhóm giải pháp. Đây là cơ sở, điều kiện, căn cứ để các cấp tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế ở từng đơn vị. Trên cơ sở nhận thức đúng, nắm vững nội dung và hệ thống giải pháp để nghiên cứu xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp và thiết thực.


Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

NHẬN DIỆN

 BP82.Psy34

Từ khi xã hội loài người xuất hiện giai cấp, cũng chính là lúc loài người phải đối đầu với một cuộc đấu tranh mới ngoài sự đấu tranh sinh tồn với tự nhiên đó là đấu tranh giai cấp. Cái giá phải trả cho cuộc đấu tranh giai cấp là không hề nhỏ. Nhưng chính những tiến bộ của xã hội loài người được thừa hưởng thành quả của cuộc đấu tranh đó còn lớn lao hơn nhiều. Dân tộc Việt Nam với hàng ngàn năm lịch sử cũng không nằm ngoài cái quy luật đấu tranh đó của toàn nhân loại.
Một vấn đề đặt ra hiện nay là phải nhận diện được mình đang đấu tranh với ai? Bởi “Biết địch, biết ta trăm trận không nguy”. Để giải quyết vấn đề đó, Đảng ta đã có quan điểm về vấn đề đối tượng và đối tác hiện nay rất sâu sắc và toàn diện nhưng không hẳn tất cả mọi người dân Việt Nam đều đã nhận biết hết về điều đó. Đặc biệt là các đối tượng nhỏ, lẻ nhưng với những luận điệu tưởng chừng như cách mạng, tiên tiến nhưng thực chất lại rất mơ hồ, ảo tưởng của bọn phản động lưu vong. Một trong những đối tượng có những hành động điên cuồng, ngạo mạn và mơ hồ nhất trong số đó chính là tổ chức Việt Tân. Việt Tân hay cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng” là sự tụ tập bởi ô hợp những tên tự cho mình là “trí thức nửa mùa” và những thằng “chí phèo” thời hiện đại. Sau những “cú huých” bằng những đồng đô la như kiểu những khúc xương người ta ném cho chó ăn của bọn tư bản mà sẵn sàng dẫm đạp lên quê hương, lên mồ mả cha ông của chúng. Như một bầy sói bị bỏ đói lâu ngày, chúng đang giơ đôi bàn tay bẩn thỉu để cầu xin từng đồng đô la cũng không sạch sẽ gì hơn để  rồi lại chồm lên như một lũ điên dại với những luận điệu ngu ngơ của chúng. Chúng đang cố bám vào cái hy vọng lòe bịp được phần nào người dân Việt Nam nên thường xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc nói xấu về Đảng, Nhà nước ta và chế độ Xã hội chủ nghĩa. Chúng thường lấy vấn đề “nhân quyền” và “dân chủ” ra để bàn luận trong khi chính bản thân chúng cũng cố lờ đi khái niệm về nhân quyền và dân chủ. Điều đó cũng thật dễ hiểu bởi chúng đang lấy chính cái kiểu tự do loạn lạc của tổ chức Việt Tân ra làm hệ quy chiếu để áp đặt cho người khác. Cái tự do kiểu loạn lạc của chúng cũng chẳng khác gì như một bầy chó hoang khi ném cho một cục xương là chúng nhảy vào sâu xé lẫn nhau để tranh giành.
Thật đáng thương cho chúng khi sinh ra với hình hài một con người mà lại không hề còn một chút nào phần người cả. Thật tội nghiệp cho chúng khi chúng càng cắn càn thì người dân Việt Nam lại càng khinh ghét và miệt thị chúng nhiều hơn. Thật thảm hại cho chúng khi lấy những việc kích động càn quấy chỗ này chỗ khác để làm “chiến công”. Thật buồn thay cho chúng khi càng ngày chúng càng lún sâu vào tội lỗi đến nỗi để người ta phải coi như là bọn khủng bố. Thật tiếc thay cho Dân tộc Việt Nam, cho gia đình họ hàng chúng khi sinh ra những “qoái thai” để rồi chúng quay lại phản bội chính dân tộc mình và gia đình họ hàng nhà chúng.
Cái tia hy vọng cuối cùng nhằm lèo bịp nhân dân Việt Nam của chúng rồi cũng dần dần bị chính người dân Việt Nam chặt đứt mà thôi. Bởi nhân dân Việt Nam luôn đủ sáng suốt và tỉnh táo để nhận biết thế nào là truyền thống, thế nào là đúng, thế nào là cách mạng để nhận diện sự bất trung, bất nghĩa, bất hiếu của bọn lưu vong phản động Việt Tân.

  

NHẬN THỨC ĐÚNG ĐỂ CÓ HÀNH ĐỘNG ĐÚNG

        QP81.Psy34

        Hiện nay, trên mạng Internet xuất hiện những lời lẽ kích động biểu tình. Lý do mà những kẻ đó đưa ra kích động tưởng chừng như rất “hợp lý” với đời sống, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, của đất nước. Khi xem xét và nhìn nhận thấu đáo mới thấy hết sự nguy hại của những tư tưởng kích động và hành động biểu tình đó. Vậy nguồn gốc của những luận điệu xuyên tạc ở đâu? Tác giả của những trò bẩn thỉu “ném đá dấu tay”, lại âm mưu "theo đóm ăn tàn, theo voi hĩt bã mía" đó là ai? Bài viết sẽ làm rõ hơn cùng các độc giả về tổ chức khủng bố Việt Tân.

          Hiểu một cách ngắn gọn thì tổ chức khủng bố "Việt Tân" (tên đầy đủ là Việt Nam canh tân cách mạng đảng), là con đẻ của “Mặt trận quốc gia kháng chiến Hoàng Cơ Minh”, do Hoàng Cơ Minh làm cầm đầu.
          Sau khi Hoàng Cơ Minh bị tiêu diệt. Năm 2006, sau nhiều trận đấu đá để tranh giành quyền lực, thậm chí chửi bới, mạt sát nhau công khai trên nhiều tờ báo, truyền hình, phát thanh của người Việt hải ngoại, "Việt Tân" được lãnh đạo bởi “đảng trưởng” Đỗ Hoàng Điềm, “tổng bí thư” Lý Thái Hùng, cùng các “ủy viên trung ương” như Hoàng Cơ Định (là em ruột Hoàng Cơ Minh), Nguyễn Trọng Việt, Đặng Thanh Chi...       
          Trong mấy chục năm qua, tổ chức phản động Việt Tân ra sức chống phá, nuôi mộng lật đổ chính quyền nhân dân tại nước ta thông qua nhiều hình thức khác nhau.
          Chúng tiến hành hàng loạt các hoạt động phản động với mưu đồ khủng bố tại VN, Việt Tân lập kế hoạch nhằm đưa người và vũ khí vào VN kết hợp với việc chiêu dụ, huấn luyện một bộ phận người trong nước để “nổi dậy”, bạo loạn lật đổ chính quyền nhân dân trên phạm vi cả nước qua đất Lào, Campuchia. Tuy nhiên, chúng ta đã đập tan các chiến dịch “Đông tiến”, bắt giữ và tiêu diệt hàng trăm đối tượng. Riêng Hoàng Cơ Minh bị tiêu diệt vào ngày 28.8.1987.
            Thế hệ sau của Hoàng Cơ Minh điển hình là Nguyễn Quốc Quân, thành viên cốt cán của Việt Tân, cùng đồng bọn 2 lần cố xâm nhập VN vào các năm 2007 và 2012 nhưng đều bị phát hiện, xét xử đúng pháp luật và bị trục xuất. Trước những bằng chứng rõ ràng và phải thừa nhận âm mưu tiến hành phá hoại, khủng bố tại VN bằng các thủ đoạn như chuẩn bị truyền đơn xách động bạo loạn vũ trang hoặc dụ dỗ quần chúng tiến hành cái gọi là “đấu tranh bất bạo động”.
            Năm 2009, Việt Tân thiết lập đường dây qua ngả biên giới để đưa người, vũ khí xâm nhập bất hợp pháp, chụp ảnh trái phép các cửa khẩu ở Kiên Giang, Tây Ninh, Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP.HCM…
          Sau khi bộ mặt thật của hình thức “đấu tranh dân chủ” bị vạch trần, không còn là con bài hiệu nghiệm, chúng chuyển sang hình thức nàycủa mô hình “thúc đẩy xã hội dân sự”.
          Tay chân Việt Tân đội lốt “nhà đấu tranh dân chủ” trong nước lập ra như “Mạng lưới blogger Việt Nam”, “Hội anh em dân chủ”, “Quỹ tù nhân lương tâm”, “Hội bầu bí tương thân”… Các tổ chức này được dựng lên một phần dùng để chiêu dụ những người cả tin đồng thời vẽ ra các dự án nhằm xin quỹ từ nước ngoài. Với những dự án như tổ chức vận động nhân quyền (dã ngoại nhân quyền, café nhân quyền…), thúc đẩy truyền thông “lề trái”... đều được lên kế hoạch tỉ mỉ từ khâu “chế biến” nhân sự, chi phí để đi xin tiền. Các tổ chức này không hề thúc đẩy cho xã hội dân sự lành mạnh tại VN, mà ngược lại còn làm sai lệch cách hiểu của xã hội dân sự thành tổ chức chính trị chống đối bên ngoài hệ thống nhà nước.
          Một cách khác được Việt Tân đẩy mạnh sử dụng là thao túng những nhân vật cầm đầu các hội nhóm “chống đối tự phát”, như No-U, Hoàng Sa, Diễn đàn Xã hội dân sự… Việt Tân thường gợi ý, giúp những nhóm này tìm ngân quỹ từ nước ngoài, công khai “ràng buộc” các thành viên cốt cán rồi tung hê trên mạng như khẳng định về “thành công”, thực lực trong nước. Mới đây, tổ chức này đã phối hợp chặt chẽ với đầu mối trong nước lợi dụng chiêu bài “bảo vệ môi trường” để kích động tụ tập, làm phức tạp tình hình an ninh trật tự, phá hoại kinh tế.
          Tuy nhiên, những thủ đoạn mới này cũng nhanh chóng bị chính cộng đồng người Việt hải ngoại và thậm chí những nhóm chống đối chính trị khác lên án và cảnh báo công khai. Theo họ, Việt Tân và chân rết của mình đã “làm hỏng những ý nghĩa tốt đẹp của xã hội dân sự”, tức bằng những thủ đoạn, chiêu trò của một tổ chức bản chất là giống mafia. Bản chất gốc của các tổ chức xã hội dân sự không phải để đấu tranh chính trị hay lật đổ, chống đối mà là để thẩm định chất lượng quản trị đất nước của chính phủ, trở thành kênh vận động và kết nối thông tin giữa người dân và chính quyền. Tuy nhiên, do tính chất khó phân biệt giữa cơ chế xã hội và đấu tranh chính trị nên các tổ chức chống chính quyền cực đoan lợi dụng xã hội dân sự như quân bài chiến lược để làm vỏ bọc và thu hút đám đông.
          Do các quy định chặt chẽ của Liên Hiệp Quốc, các “quỹ dân chủ” không thể rót tiền cho các đảng phái chống đối, kêu gọi lật đổ chính phủ một nước. Bởi thế, Việt Tân không thể nhận tiền hỗ trợ trực tiếp từ các quỹ này trong khi ngân quỹ ngày càng eo hẹp vì bị cộng đồng tẩy chay, vạch mặt. Các tổ chức ngoại vi không thể xin tiền từ bà con hải ngoại dễ như trước, nhất là trong bối cảnh suy thoái kinh tế. Việt Tân chỉ có con đường duy nhất là núp bóng các tổ chức xã hội dân sự. Nhân sự các “tổ chức xã hội dân sự” này khá quen thuộc vì những tuyên bố, hành động chống đối trên mạng ảo lẫn đời thật và mỗi người thường nằm trong nhiều tổ chức cùng lúc.
          Tuy nhiên, dù vỏ bọc có tinh vi đến đâu thì người dân VN đều dễ dàng nhìn ra bản chất của Việt Tân, và chúng ta nhận thấy rằng:
          Tổ chức Việt tân đã hô hào, kích động biểu tình không phải là tổ chức yêu nước, thương dân. Họ là những người, tổ chức, cá nhân trước đây có nguồn gốc từ chính những hành động bán dân, hại nước, nợ máu với đồng bào; không bám gót, làm tay sai cho đế quốc Mỹ xâm lược. Đồng bào ta, nhân dân ta một thời đã từng chịu bao khổ đau dưới sự dày xéo, áp bức và giết chóc dưới chính bàn tay của những kẻ phản bội như họ. Đến khi, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào ta, nhân dân cả nước đứng lên lật đổ xiềng xích của phong kiến, thực dân, đế quốc và những kẻ đè nén, áp bức; xóa bỏ những quyền và lợi ích từ sự tước đoạt, chém giết đồng bào vô tội… thì họ tỏ ra căm thù và chống đối chế độ xã hội mới một cách điên cuồng và ráo riết hơn. Họ và con cháu của họ, thường là những kẻ đào vong, chạy chốn khỏi Tổ quốc sau cách mạng, sau chiến tranh giải phóng, đến nay vẫn còn mơ ước và ảo tưởng với những lợi ích cá nhân và bẩn thỉu trước đây đã bị nhân dân và cả dân tộc đánh đổ; vẫn hoài niệm về một “tổ quốc” của những kẻ bóc lột nhân dân mà ở đó họ sẽ là người cai quản.
          Nhưng thời thế đã thay đổi, để che dấu bản thân với nguồn gốc “hại dân, hại nước” đó, họ đã luôn biến hình như những con kỳ nhông; lập ra hết tổ chức này, đến tổ chức khác; chưng diện hết tuyên ngôn này, khẩu hiệu khác, mang những “lời hay”, “ý đẹp” ra để lừa phỉnh nhân dân và chiếm đoạt lòng tin của một bộ phận nhân dân, hòng mưu đồ cho những mục đích, động cơ xấu xa, bẩn thỉu của mình.
          Thứ hai, động cơ, mục đích của chúng là muốn đất nước bất ổn, khuấy động bạo động, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, hủy hoại thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân ta suốt hơn 70 năm qua. Trong quá trình quản lý và điều hành đất nước, Đảng và Nhà nước ta cũng thừa nhận còn có nhiều sai sót trong công tác lãnh đạo và quản lý đất nước; để nhiều sự việc, vấn đề bức xúc trong nhân dân, xã hội diễn ra, kéo dài. Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề chính để một số đồng bào, nhân dân nghe theo những lời kích động thiếu căn cứ đó để biểu tình, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Đồng bào và nhân dân ở một số vùng có những vấn đề bức xúc vừa mới nảy sinh hay kéo dài, cần phải nhận rõ mục đích tư tưởng và hành động kích động biểu tình của những tổ chức, cá nhân trên đây hoàn toàn không vì lợi ích của chính đồng bào ta, nhân dân ta đâu.
          Mục đích thực sự của các tổ chức, cá nhân đó chỉ là muốn lợi dụng sự bất bình của nhân dân một số nơi để kích động nhân dân bạo loạn, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội; tiến xa hơn, đó là sự “tập dượt” cho những hành động chống đối và lật đổ chính quyền nhà nước của chính nhân dân ta, đồng bào ta đã phải tốn bao xương máu, công sức mới có được. Mục đích chính trị cuối cùng của họ là lật đổ chính quyền nhà nước xã hội chủ nghĩa, lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam, chuyển hóa chế độ ta sang chế độ tư bản chủ nghĩa, mà thực chất là chế độ người bóc lột người ở thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế này. Họ đã bao lần mượn cớ các sự kiện, các vấn đề bức xúc trong xã hội và nhân dân để làm náo loạn đất nước nhưng không thành. Nay nhân những sự kiện Trung Quốc gây bất ổn trên Biển Đông, xâm phạm chủ quyền, quyền tài phán của nước ta; hay sự vụ xả thải chất độc hại của Formosa… mà kích động nhân dân một lần nữa, hòng rắp tâm thực hiện bằng được những mưu đồ chống Đảng, phá Nước và hại dân của mình.
          Mục đích đen tối của họ đã rõ ràng. Dẫu đó có vấn đề nóng thực sự của đất nước, dẫu có là những lời dẫn dụ “hay – đẹp”, dẫu có là những lời khuyên nhủ của ai đó nhân danh và giả danh các tôn giáo và giáo lý tốt đẹp hay trắng trợn mua chuộc bằng những đồng tiền lừa bịp mà có… thì cũng không thể che đậy được động cơ, mục đích đích thị của những kẻ phản động, bất mãn với chế độ và căm thù nhân dân là những người đã đánh đổ quyền lợi của những kẻ xấu xa như chúng.
          Thứ ba, việc tụ tập, biểu tình chỉ gây thiệt hại thêm cho chính đồng bào, đất nước và đó là những hành động trái với pháp luật của Nhà nước ta. Việc biểu tình của một bộ phận nhân dân ở các tỉnh miền Trung và một số địa phương khác thời gian qua, trên một khía cạnh nào đó là chính đáng, để thể hiện rõ sự bức xúc trước những vấn đề ảnh hưởng lâu dài đến đời sống của hang vạn người dân, do những nguyên nhân từ sự buông lỏng quản lý của Nhà nước và chính quyền địa phương đối vấn đề đó. Tuy nhiên, nếu cứ liên tục tụ tập và biểu tình kéo dài, nghe theo những lời kích động đó thì thực chất vấn đề lại đi quá xa, lại gây ảnh hưởng và thiệt hại lớn hơn nữa đến chính nhân dân, đồng bào ở những vùng, địa phương đó.
          Hệ lụy kéo theo đó rất rõ ràng và đầu tiên là thiệt hại về kinh tế.Tiếp đến là, thiệt hại về truyền thống văn hóa và uy tín chính trị và mất an ninh trật tự và ổn định xã hội chính nơi đồng bào sinh sống. 
          Nhận thấy sự nguy hiểm của tổ chức tự phát Việt Tân, trong thông báo chính thức, Bộ Công an nêu rõ: Việt Tân là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của Việt Tân; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do Việt Tân tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của Việt Tân… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.
          Những ung nhọt như Việt Tân cần được cắt bỏ, loại trừ khỏi xã hội. Để làm được việc ấy mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đoàn thể cần có cách nhìn đúng đắn, khách quan, sáng suốt. Tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước; bạn bè tiến bộ quốc tế ủng hộ Việt Nam, vạch trần âm mưu thâm độc của các tổ chức phản động như Việt Tân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân với sức mạnh to lớn, nhấn chìm bè lũ cướp nước và bán nước, bảo vệ thành quả cách mạng mà cha ông ta đã phải đánh đổi bằng máu, đưa nước ta sánh vai với các cường quốc trong khu vực và thế giới.

                                                                                 
NÂNG CAO CẢNH GIÁC PHÒNG CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH’’

Diễn biến hòa bình là chiến lược toàn cầu, phản cách mạng do chủ nghĩa đế quốc chủ mưu thực hiện nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên toàn cầu, không cần chiến tranh, không cần tiếng súng. Hay nói cách khác đó là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ CNXH, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và chế độ chính trị ở Việt Nam. Thủ đoạn của chúng là tập trung đòi phi chính trị hóa Quân đội nhân dân và công an nhân dân, tách lực lượng này khỏi sự lãnh đạo của Đảng ,làm suy yếu và tước đi công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và nhà nướcta.  Bản chất âm mưu thâm độc của chúng là tập trung vào xuyên tạc chủ nghĩa Mác lê nin , tư tưởng Hồ chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển lực lượng chống đối ở nước ngoài và trong nước , xúi dục các thành phần cơ hội các phần tử phản động, bất mãn, hình thành các tổ chức đối lập về chính trị, đấu tranh đòi đa nguyên đa Đảng dưới chiêu bài đòi dân chủ, xuyên tạc vu cáo đường lối quan quan điểm của Đảng và nhà nước ta, phá hoại hệ tư tưởng và sự đoàn kết trong Đảng, kích động gây chia rẽ quần chúng nhân dân với Đảng.Cùng với các thủ đoạn nham hiểm, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang tìm mọi cách xuyên tạc bôi nhọ bản chất truyền thống tốt đẹp của quân đội, chia rẽ tình đoàn kết máu thịt giữa quân đội và nhân dân, nhằm vô hiệu hóa công cụ bạo lực của Đảng. Mục đích nhằm lật đổ chính quyền, thiết lập chính quyền mới phản động, đồng thời kêu gọi nước ngoài can thiệp tạo cớ cho sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc.
Nhận thức rõ bản chất âm mưu thủ đoạn thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chúng ta phải:
Một là thường xuyên xây dựng bản lĩnh chính trị cho cán bộ chiến sỹ, giúp họ đủ để đề kháng, miễn dịch và ứng phó với mọi tình huống phức tạp của thực tiễn hoạt động chính trị, nhất là trong đấu tranh phòng chống diễn biến hòa bình, không bị mắc mưu, bị lừa bịp trước trước những thông tin sai trái, độc hại do các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị gây ra.
Hai là tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo công tác tư tưởng và xây dựng môi trường văn hóa trong sạch lành mạnh, làm cho cán bộ chiến sỹ nhận thức sâu sắc bản chất, âm mưu hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Việt nam. Nhất là tính chất nguy hại của hoạt động phá hoại về tư tưởng, thường xuyên thông tin tình hình hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, định hướng kịp thời trước các sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, nhà nước, quân đội. Tạo sự đồng thuận cao trong cán bộ chiến sỹ, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.
Ba là Tổ chức tốt công tác giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự, nâng cao sức mạnh chiến đấu, thường xuyên nâng cao đời sống tinh thần cho bộ đội, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao trình độ nhận thức để xây dựng phẩm chất cách mạng, lối sống trong sạch, ngăn ngừa và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, những hiện tượng tiêu cực từ bên ngoài xã hội lây lan vào nội bộ quân đội. Xây dựng những giá trị văn hóa, đạo đức lối sống cao đẹp của người quân nhân cách mạng, để tự mỗi người có sức đề kháng, miễn dịch trước những tác động của lối sống thấp hèn từ các loại văn hóa độc hại và các giá trị đạo đức theo kiểu phương tây.
Bốn là làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác giáo dục quản lý cán bộ Đảng viên, quản lý chiến sỹ, công nhân viên quốc phòng, cụ thể là quản lý tốt mối quan hệ xã hội, sinh hoạt, kinh tế, ý thức tổ chức kỷ luật của từng quân nhân.Kiên quyết loại khỏi quân đội những kẻ biến chất về chính trị, tha hóa về phẩm chất đạo đức,tham nhũng cơ hội. Tập trung xây dựng đơn vị an toàn địa bàn an toàn. Thường xuyên giáo dục cho mọi người có ý thức cảnh giác cao, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.


CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ NIN MÃI MÃI LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH của nước ta, các thế lực thù địch không ngừng chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”… bằng các thủ đoạn tinh vi, thâm độc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; thông qua con đường ngoại giao, hợp tác kinh tế, đầu tư… thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, hòng làm mất ổn định chính trị - xã hội. Chúng tiến hành chống phá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tập trung đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Chúng cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với nền văn minh công nghiệp, còn thế kỷ XXI là thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa nên đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua; hoặc cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với các nước Tây Âu, không thích hợp với các nước lạc hậu như Việt Nam, rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”. Hoặc cho rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu chứng tỏ “chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm, sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai”.
Nhìn lại lịch sử, trước khi chủ nghĩa Mác- Lênin xuất hiện ở Việt Nam. những phong trào giải phóng dân tộc như: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, các cuộc vận động của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học đều thất bại. Nhưng kể từ khi Bác Hồ đem chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc bước sang trang mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh nước ta đã giành được chính quyền từ tay đế quốc và tuyên bố thành lập nước Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tiếp theo là chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954 trước thực dân Pháp sau khi Pháp trở lại Đông Dương năm 1946. Sau đó là cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài hơn 30 năm, kết cục là Mỹ đã rút khỏi Việt Nam sau khi Hiệp định Hòa bình Paris được kí kết vào tháng 01 năm 1973 và chính phủ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.
Thực tế đã và đang khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin từ khi ra đời đến nay đã thể hiện rõ bản chất khoa học và cách mạng, giá trị và sức sống bền vững của nó. Nhiều chính khách, nhà khoa học ở cả trong và ngoài nước có những bài thuyết trình, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Một số học giả tư sản đã thừa nhận, tinh thần của Các Mác vẫn tỏa sáng và dù muốn hay không người ta vẫn phải dựa vào Các Mác mới có thể phân tích đúng chủ nghĩa tư bản đương đại.
 Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vào năm 1927, Hồ Chí Minh đã viết: “…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, chủ nghĩa Mác-Lênin không những là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Sác-lơ Phuốc-niô ngày 15-7-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi giành được thắng lợi là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng… chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác-Lênin”.
 Đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, Đảng ta tiếp tục kiên định lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động. Đối với nước ta, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lê-nin được thể hiện trong toàn bộ tiến trình vận động, phát triển của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua việc truyền bá, vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể trong từng giai đoạn, làm cho học thuyết này luôn tràn đầy sức sống trên mảnh đất hiện thực Việt Nam.


Psy33hvlq81

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

THEO ĐẢNG LÀ CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐÚNG
Đ.Q.Psy11

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện chính trị quan trọng đối với đất nước và dân tộc Việt Nam, Đảng đã soi sáng con đường giải phóng dân tộc cho nhân dân ta, đã đưa đường chỉ lối cho dân tộc ta đến với tự do, độc lập. Những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam, trước hết được bắt nguồn từ đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn; sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Dân tộc Việt Nam trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX khi chưa có một chính Đảng lãnh đạo, đất nước chìm đắm trong đêm dài nô lệ, bởi sự nô dịch, đàn áp, bóc lột của thực dân - phong kiến. Trong suốt tiến trình cách mạng đầy khó khăn, gian khổ, hàng vạn đảng viên cộng sản đã hy sinh trong ngục tù của thực dân, đế quốc, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ bản lĩnh, năng lực, uy tín kinh nghiệm lãnh đạo được cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thống nhất Tổ quốc, đưa đất nước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội; khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới với những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Chính trị ổn định, độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo được giữ vững; uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo đã làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng khá nhanh, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngày càng hoàn thiện. Đời sống về vật chất và tinh thần của nhân dân ta đã được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có bước phát triển mới. Quốc phòng và an ninh được giữ vững và tăng cường. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng ta đã tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta giành được trong công cuộc đổi mới đất nước đã góp phần khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, khẳng định vai trò và sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.
Trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp như hiện nay, càng cần có sự lãnh đạo của Đảng. Chúng ta cũng thừa nhận rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta có vấp phải một số sai lầm, khuyết điểm, nhưng sau mỗi lần như vậy Đảng ta đã nghiêm khắc sửa chữa, được nhân dân ủng hộ và uy tín của Đảng càng được củng cố vững chắc thêm. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc, thổi phồng những sai lầm, khuyết điểm, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng ta phải cảnh giác, tỉnh táo trước những luận điệu chống phá, xuyên tạc của các thế lực phản động, không chỉ nhìn vào một số khuyết điểm, tiêu cực xã hội mà mất lòng tin vào Đảng, vào chế độ. Phải luôn nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện cả thành tựu và hạn chế, cả hiện tại và tương lai, có sự phân tích và suy ngẫm một cách thấu đáo. Những hạn chế, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những tiêu cực và tệ nạn xã hội là cái khó tránh khỏi trong quá trình phát triển của đất nước. Không thể vì một số cán bộ, đảng viên hư hỏng, thoái hóa, biến chất mà phủ nhận cả một sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng.
Phía trước có không ít khó khăn, thách thức và thuận lợi đan xen, nhận thức sâu xa trách nhiệm của mình là đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vươn lên tầm cao mới, đáp ứng tốt nhất đòi hỏi của đất nước ta, dân tộc ta trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã đề ra đã đáp ứng lòng mong đợi của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; được triển khai kịp thời và sâu rộng. Có thể coi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) là tiếng kèn xung trận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, đảm bảo phát huy vai trò, chức năng của từng tổ chức trong hệ thống chính trị theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Sức mạnh của Đảng phải được nhân lên từ mỗi đảng viên tiền phong gương mẫu, từng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh. Trong niềm vui đón xuân và kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Đảng, mỗi đảng viên, mỗi cấp ủy nhận rõ hơn, nhiệm vụ, tạo bước chuyển mang tính đột phá trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.



Thứ Năm, 26 tháng 1, 2017

ĐẢNG LÀ NIỀM TIN TẤT THẮNG!
Suốt 87 năm lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được vị trí, vai trò, trọng trách của mình trước vận mệnh dân tộc, tương lai của đất nước. Vì vậy, Đảng luôn hoà cùng hơi thở và mạch sống của nhân dân, ý Đảng hợp lòng dân tạo nên sức mạnh quật khởi, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành niềm tự hào, niềm tin, lẽ sống, tiếp tục là Người lãnh đạo dân tộc Việt Nam đi đến bến bờ vinh quang!
Vừa mới ra đời, Đảng ta đã nắm ngay quyền lãnh đạo độc tôn và hoà vào cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ, từng bước tạo thế, lực, thời cơ và chớp thời cơ “ngàn năm có một”, lãnh đạo cả dân tộc vùng dậy, làm nên cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - nhà nước của dân, do dân, vì dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, xoá bỏ chế độ thực dân, nửa phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 9 năm sau đó, dân tộc Việt Nam có quyền tự hào với bè bạn năm châu vì đây là lần đầu tiên một dân tộc thuộc địa nhược tiểu đã đánh thắng đội quân nhà nghề Pháp hùng mạnh, làm nên mốc son Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký vào Hiệp định Giơnevơ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương, đồng thời cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa vùng lên“đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
          Dân tộc ta không chỉ tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại mà chính Đảng và Bác Hồ đã tiếp thêm sức mạnh, nguồn sống, niềm tin để cả dân tộc Việt Nam tiếp tục bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ, cứu nước hơn hai thập niên sau đó.
          Dân tộc ta tự hào Việt Nam có Bác Hồ - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng ta và càng tự hào hơn vì dân tộc ta có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Vì vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam không sợ Mỹ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong Báo cáo Chính trị của BCHTW Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV viết: “Trong cuộc trường chinh để giành độc lập, tự do cho dân tộc, ở đâu và lúc nào cũng có Đảng. Đảng đi đầu trong chiến đấu. Đảng xông pha nơi khó khăn. Đảng gắn bó với nhân dân bằng những gì Đảng đã làm cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Trong giai đoạn mới, Đảng quyết làm tất cả vì sự phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”. 
Với sức mạnh của mình và những thắng lợi vang dội của dân tộc Việt nam vang dội khắp bốn biển năm châu đã tạo ra niềm tin vững chắc, dấn thân đi theo tiếng gọi của Đảng, Bác Hồ làm cách mạng, giải phóng dân tộc đã đem lại một đất Việt Nam hoà bình, thống nhất, giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Niềm tin ấy tiếp tục được người dân kỳ vọng, gửi gắm vào Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước. 
Trước muôn vàn khó khăn, thách thức trong quá trình cả nước lên xây dựng CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam rất chú trọng đến việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng an ninh, thực hiện phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại và cơ bản hoàn thành nhiệm vụ đề ra chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, từng bước tạo tiền đề cho đất nước chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
          Những thắng lợi quan trọng của chặng đường đầu tiên và thời kỳ tiếp theo của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, vượt qua mọi khó khăn, bao vây cấm vận, khủng hoảng tài chính, kinh tế ở khu vực và thế giới, nợ công, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ đang diễn ra ngày càng phức tạo trên thế giới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam vẫn vững vàng đi lên trên con đường mà Đảng và Bác Hồ lựa chọn. Nước ta là điểm đến hấp dẫn của bè bạn năm châu, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. 
          Trong quá trình lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách mạng 87 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, bên cạnh thành tựu, Đảng ta cũng không tránh khởi những yếu kém, sai lầm, khuyến điểm, song, Đảng ta đã nhìn nhận, lắng nghe ý kiến phản hồi từ nhân dân, từ đó, đề ra những biện pháp sửa chữa đúng đắn, kịp thời và công khai phê bình, nhận khuyết điểm trước nhân dân, quyết tâm sửa chữa và sửa chữa có kết quả. Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay và đợt sinh hoạt tự phê bình và phê bình thời gian qua là minh chứng hùng hồn về quá trình từng bước nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch là đạo đức, là văn minh như sinh thời Bác Hồ đã khẳng định.

Vì vậy, suốt chặng đường lãnh đạo 87 năm qua, Đảng ta vẫn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, được nhân dân tin cậy, thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong chính trị, người lãnh đạo chân chính duy nhất của cả dân tộc. Thành tựu mà dân tộc Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng thật lớn lao, đưa dân tộc Việt Nam vững vàng bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng ta không chỉ là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta mà còn trở thành niền tin sắt son, tự hào của dân tộc Việt Nam mỗi khi nói về Đảng. Chúng ta một lần nữa khẳng định rõ ràng rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…”.
ĐẢNG CHO TA MÙA XUÂN

                                   Psy KV 34

Mùa xuân năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự kiện lịch sử trọng đại, mở ra bước ngoặt căn bản trong sự phát triển của dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam có một chính đảng cách mạng, đủ sức lãnh đạo nhân dân giành độc lập dân tộc, giành quyền sống tự do, mưu cầu hạnh phúc, xây dựng đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc. 
Đúng vậy! Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập 03 tháng 02 năm 1930. Trải qua 87 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta xóa bỏ “đêm dài nô lệ”, với chặng đường lịch sử 15 năm đầu tiên Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mở ra thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Khai sinh nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á
Tiếp đến là chặng đường 30 năm trường kỳ đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược nhằm thực hiện khát vọng của dân tộc “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” và chân lý của mọi thời đại: "Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do", kết thúc bằng cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa non sông gấm vóc về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội - thực hiện một sự nghiệp vinh quang, vĩ đại, hoàn toàn mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Sau khi nước nhà hoàn toàn được giải phóng,Đảng ta tiếp tục lãnh đạo cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới từng phần tiến tới đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986 thực hiện thắng lợi hai chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Những năm tháng của chiến tranh đất nước ta phải đối mặt và vượt qua muôn vàng khó khăn, gian khổ và ác liệt của giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm và hôm nay đất nước ta tiếp tục vượt qua những khó khăn, thử thách nghiêm trọng của thời kỳ hậu chiến và những biến động khôn lường của tình hình thế giới, sự khủng hoảng dẫn đến đổ vỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Đảng ta vẫn vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Bằng bản lĩnh và nghị lực, kinh nghiệm và ý chí cũng như trách nhiệm, trước vận mệnh của dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới với những thành tựu to lớn, đưa đất nước tiếp tục phát triển tiến lên trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa quốc tế, trên cơ sở kiên định mục tiêu, lý tưởng: "Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội"
Là hế hệ trẻ sinh ra và lớn lên trong điều kiện đất nức đã hòa bình phát triển, chúng ta phải ý thức sâu sắc giá trị sống của một ngày trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc vì nó đã phải đánh đổi bằng chính xương máu, mồ hôi, nước mắt và sự hy sinh của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ là anh hùng liệt sỹ, những người thân yêu, ruột thịt của chúng ta; nhận thức sâu sắc hơn mục tiêu, lý tưởng của Đảng, Bác Hồ là hết lòng vì nước quên thân, vì nhân dân phục vụ, kiên quyết thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.Trước đây cũng như hiện nay, trong muôn vàn khó khăn, thách thức, Đảng ta vẫn son sắt thủy chung, một lòng một dạ vững tin chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam băng qua ngàn chông gai, vượt qua mọi bão táp, phong ba, gềnh thác, đưa dân tộc ta đi đến bến bờ hạnh phúc, vinh quang: đất nước có hòa bình, ổn định chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh được tăng cường; uy tín, vị thế của nước ta không ngừng được củng cố và nâng cao trên trường quốc tế. Qua thực tiễn cách mạng, tư duy lý luận, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta ngày càng phát triển, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo và để lại những mốc son tươi thắm trong từng giai đoạn lịch sử; đặc biệt là việc Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 30 năm qua vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng,văn minh”.
Chính vì vậy khi ca ngợi về công lao to lớn của Đảng, các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ và quảng đại quần chúng nhân dân đã ví Đảng ta là “người Mẹ hiền”, “Đảng đã cho ta mùa xuân đầy ước ngyện,Đảng đã mang về mùa xuân cho nước nhà” và Đảng là lẽ sống, niềm tin và tình yêu cuộc sống. Điều đó thật chân tình, giản dị nhưng vô cùng sâu sắc, đã kết tinh và hội tụ đầy đủ “ý Đảng - lòng Dân”, thắm đượm tình người, hàm chứa nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc! Bởi lẽ, mùa Xuân là biểu tượng của đoàn viên, sum họp và hạnh phúc. Nhờ đó, vũ trụ, đất trời và lòng người dân nước Việt đều hanh thông, cây cối đâm chồi, nảy lộc; vạn vật giao hòa tươi tốt; con người, cảnh vật đều tươi vui, rộn rã. 87 năm qua cũng là 87 mùa xuân Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam thực hiện mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” và mục tiêu, lý tưởng ấy lại tỏa sáng trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng. Vì lẽ đó, Đảng ta chính là mùa Xuân của Đất nước, của con người Việt Nam.
Rõ ràng là “ý Đảng - lòng Dân” luôn hòa quyện, gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo nên mùa xuân - cách mạng - niềm tin và lẽ sống, trở thành vũ khí “bách chiến bách thắng” của dân tộc ta. Trước khó khăn, thử thách, trước kẻ thù hung bạo nhưng hàng triệu người dân Việt Nam yêu nước không hề run sợ, chẳng tiếc máu xương, tự nguyện đứng lên, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì lý tưởng cộng sản, vì chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”, kiên quyết gìn giữ, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Chính trong đêm trường nô lệ, giữa cảnh lầm than của người dân mất nước, tình hình “đen tối như không có đường ra”, Đảng ta đã ra đời và đã đem về cho dân tộc ta những mùa xuân tràn đầy hạnh phúc!
Những thành tựu to lớn của nhân dân ta 87 năm qua cũng khẳng định rằng, chỉ có Đảng ta, một đảng mác-xít chân chính, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam là Đảng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là sự lựa chọn khách quan của lịch sử, được nhân dân Việt Nam thừa nhận và được lịch sử ghi nhận qua 87 năm đấu tranh anh dũng. Vì vậy, mỗi chúng ta vô cùng tự hào về Đảng, về lịch sử quang vinh của Đảng. Đảng ta xứng đáng "là đạo đức, là văn minh" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Tự hào về Đảng, tự hào về lớp lớp những tấm gương cao đẹp của các đảng viên cộng sản qua các thời kỳ và mãi mãi ghi nhớ công ơn về những cống hiến của các đảng viên cho đất nước trong sự nghiệp cách mạng trước đây cũng như trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Càng tự hào về dân tộc và nhân dân anh hùng, về Đảng quang vinh, chúng ta càng biết ơn sâu sắc Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Người sáng lập, rèn luyện Đảng ta. Người đã để lại cho dân tộc ta, Đảng ta một sự nghiệp vẻ vang, một di sản vô giá, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh và một tấm gương trong sáng, mẫu mực, trọn đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Một mùa Xuân mới đã về trên quê hương đất Mẹ Việt Nam, cũng là năm có thêm nhiều thời cơ, thuận lợi để chúng ta xây dựng, phát triển đất nước; song cũng không ít khó khăn, thách thức mới đối với đất nước ta. Nhưng với bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, được rèn luyện, thử thách qua 87 mùa xuân - cách mạng, với sức sáng tạo luôn tươi mới như “chồi non, lộc biếc”, chúng ta tin tưởng tuyệt đối vào đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo năm 1986 và đã được các kỳ Đại hội Đảng kế tiếp đặc biệt Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng bổ sung, phát triển sẽ giúp Đảng ta vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua sóng to, bão dữ thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh,dân chủ,công bằng,văn minh”. Đảng ta mãi mãi là Đảng anh minh sáng suốt soi đường, quân tiên phong sắc son giữ nước để bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng hành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hôi chủ nghĩa.


TỰ HÀO KHI LÒNG TA CÓ ĐẢNG
_QP81Psy34_


          Năm cũ sắp qua, cả nước ta đang nô nức đón chào một mùa xuân mới tràn đầy niềm tin và hy vọng, Xuân Đinh Dậu – 2017. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc Đảng ta sắp bước sang tuổi mới, điểm thêm dấu son vào chặng đường phát triển rực rỡ và vẻ vang của mình. Những thắng lợi và thành tựu đạt được của đất nước ta trong 86 năm qua kể từ khi có Đảng lãnh đạo là minh chứng sinh động nhất về năng lực lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và sức mạnh to lớn của Nhân dân ta. Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đất nước ta tiến lên phía trước, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đảng đã không ngừng tự đổi mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trước bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức được đẩy mạnh; tiếp tục đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng...
          Đó là sự thật! Ai đó dù có thành kiến hoặc có quan điểm đối lập với Đảng ta, nhưng không thể phủ nhận những kết quả mà nhân dân Việt Nam tạo dựng qua 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều gì đã giúp Đảng ta thực hiện tốt vai trò lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước? Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện lịch sử trọng đại của cách mạng Việt Nam, là mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta. Kể từ khi ra đời cho đến nay, trước sau như một, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, luôn lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Hơn 86 năm hoạt động và lãnh đạo cách mạng, ở những thời điểm quan trọng mang ý nghĩa bước ngoặt, Đảng ta đều vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, dự báo được tình huống có thể xảy ra, để từ đó chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho việc xử lý tình huống.
          Hiện nay các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng những vấn đề còn đang tồn tại, chưa đc giải quyết triệt để trong quá trình lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc đổi mới để tuyên truyền xuyên tạc, làm nhiễu loạn thông tin, hướng lái dư luận, gây hoang mang trong nhân dân và cán bộ, đảng viên. Chúng cho rằng, việc Đảng Cộng sản Việt Nam phải đưa ra vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng cho thấy nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng không phải từ xa, từ bên ngoài mà từ trong nội bộ, Đảng chỉ sửa lỗi hệ thống “kiểu giật gấu vá vai”, là sự “tụt hậu” về ý thức hệ và sự sụp đổ là tất yếu; rằng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đề ra từ rất lâu, nhưng đến nay chưa có kết quả, việc triển khai các Nghị Quyết Trung ương từ trước đến nay chỉ là hình thức, mị dân. Lần này cũng vậy, chúng cho rằng Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa XII chưa đi vào nguyên nhân gốc, Đảng Cộng sản Việt Nam “tự tan vỡ” và không còn vai trò lãnh đạo đất nước.
          Kế thừa những kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng xác định: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… là nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Cái mới của lần này là Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Chỉ rõ nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân…. ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng, “tự diễn biến” phải đấu tranh cho thật trúng, đặc biệt những người có chức, có quyền.
          Trên thực tế, tuy còn gặp nhiều khó khăn song rõ ràng, đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao…
          Đặc biệt với Quân đội, Đảng ta luôn xác định Đảng lãnh đạo Quân đội là tất yếu khách quan. Mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội là mối quan hệ lãnh đạo và phục tùng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội bằng một cơ chế đặc thù, bảo đảm cho Đảng thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng vẻ vang của Quân đội; mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội đã trở thành bản chất, truyền thống quý báu của Quân đội ta. Mọi âm mưu tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng đều nhằm cô lập Đảng, làm cho Đảng mất đi lực lượng chính trị trung thành, tin cậy nhất, mất đi sức mạnh vật chất to lớn để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.
          Trong mối quan hệ giữa Quân đội với Nhà nước và Nhân dân, Quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, do Nhà nước quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng. Quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước thực chất cũng chính là công cụ bạo lực của Nhân dân; Quân đội bảo vệ Nhà nước xét đến cùng cũng chính là bảo vệ Nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tất yếu phải lãnh đạo Quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất quan tâm xây dựng, củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Quân đội với Nhân dân, coi đây là một trong những nguyên tắc hết sức quan trọng để làm cho quân đội kiểu mới khác hẳn về chất với các kiểu quân đội của giai cấp, nhà nước bóc lột trước đây.
          Thực tiễn xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội ta đã thường xuyên quán triệt, thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quân đội ta luôn lấy mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, của dân tộc làm mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của mình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội luôn nhận rõ kẻ thù của nhân dân, của dân tộc; xác định đúng đối tượng tác chiến; vận dụng, phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc, luôn kề vai, sát cánh, đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc – sức mạnh vô cùng to lớn để chiến đấu và giành những chiến thắng vĩ đại, đánh bại những tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn nhiều lần. Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta đã xây dựng được sức mạnh chiến đấu vô địch, trở thành một trong những quân đội bách chiến, bách thắng ở thế kỷ XX.
          Thực tiễn đó là không thể phủ nhận! Hơn thế còn là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điểm xuyên tạc, kích động đòi tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Những luận điểm phi lý này của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị chắc chắn sẽ chết yểu cũng như mọi mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, đi ngược lại quy luật sẽ tất yếu thất bại.
          Tiến tới kỷ niệm 87 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn dân, toàn quân ta vô cùng tự hào vì đất nước ta có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tực lãnh đạo Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hoà bình và tiến bộ của nhân loại. Từ đó, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, nguyện đi theo Đảng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; ra sức thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2017./.